Science & Technology‎ > ‎Articles‎ > ‎

Thất Tiễn Pháp

Thất tiễn pháp, môn khí công phỏng theo phép bắn cung nhưng không phải cung thật. Yếu quyết là tưởng tượng trong tay có cây cung và mũi tên, lúc vận hành vừa phối hợp với hơi thở vừa kéo dây cung vô hình và xạ vào mục tiêu vô hình với ý niệm nhất định phải trúng đích. Thất tiễn pháp gồm 7 thức (tư thế) bắn cung:

  1. Trực tiễn
  2. Tả tiễn
  3. Hữu tiễn
  4. Hồi tiễn
  5. Nghịch tiễn
  6. Liễu tiễn (Địa tiễn)
  7. Thiên tiễn

Trước khi đi vào chi tiết, tôi nêu ra điểm chung của 7 thức:

  • Mỗi tức (hơi thở) gồm 3 nhịp: hít vào bằng miệng, nín thở, thở ra bằng mũi cùng 1 tiếng “hà” to. Lúc hít vào vận kình, ép khí xuống đan điền, quán mắt vào mục tiêu vô hình. Lúc nín thở, vận kình tột mức, nuốt nước bọt, thót hậu môn. Lúc thở ra, thả lỏng toàn thân, hư linh lưng bụng. Lưỡi luôn đặt lên nóc họng.
  • Vận kình kéo cung song song với hít vào. Lưu ý, phải tưởng tượng kéo dây cung thật, tập đến chừng nào kéo thấy nặng là thành công. Quán vào 2 điểm: mục tiêu vô hình và đan điền
  • Khi cung được kéo tối đa, thực hiện tuần tự bốn việc:
    1. Nín thở
    2. Nuốt nước bọt
    3. Thót hậu môn
    4. Nhả dây cung và tưởng tượng với ý niệm tiễn nhất định sẽ trúng đích vào mục tiêu đã quán lúc kéo cung
  • Cuối cùng, “hà” một tiếng và từ từ thở ra cho đến kiệt hơi, cơ thể nhẹ nhàng và thả lỏng toàn thân. Lưu ý, thời gian thở ra sẽ dài bằng hoặc hơn tổng thời gian kéo cung và nín thở.

Tóm lại tất cả 7 thức đều gồm 3 bước:

  1. Hít vào – Kéo cung
  2. Nín thở – Xạ tiễn
  3. Thở ra – Thả lỏng

Mỗi thức có 6 lần kéo-bắn, 3 lần cho mỗi tay.

Trực tiễn

Đứng trung bình tấn hoặc dang chân chữ bát, hai tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa. Từ từ thở ra và vòng tay ra song song trước mặt, bàn tay dần lật đối tâm. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Yếu quyết của thức này là ngay thẳng, không thiên lệch.

 

Tả tiễn

Đứng đinh tấn, hai tay lật ngữa, chuyển một vòng sang trái 90 độ, cổ đầu cũng xoay theo, từ từ thở ra. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Yếu quyết của thức này: động tác xoay chuyển liên tục.

 

Hữu tiễn

Giống như tả tiễn, nhưng xạ phía phải.

 

Hồi tiễn

Vẫn đứng đinh tấn như tả hữu tiễn nhưng quay đầu phía sau, vòng tay xoay rộng hơn đến 180 độ. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Yếu quyết của thức này, vẫn động tác xoay chuyển liên tục.

 

Nghịch tiễn

Vẫn đinh tấn nhưng thức này khiến khớp bả vai hơi tréo. Hai tay lật ngữa từ từ xoay theo 2 hướng ngược nhau, một trước một sau. Giống như dang tay ưỡn ngực. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Thức này rất đặc biệt, tay phía sau đặt sau lưng từ từ kéo, giống như đặt cung sau lưng để bắn, tay kéo sẽ hơi nghịch và đau. Yếu quyết của thức này, tuy nghịch tay nhưng khí thế bạt cung phải rất rộng, thoáng đạt.

 

Liễu tiễn

Chân chéo trảo mã tấn, chưởng tâm không còn ngữa mà lật úp từ từ xoay, hai tay cũng chúc xuống đất, mắt nhìn xuống, mục tiêu vô hình vẫn ở dưới đất, nên thức còn có tên Địa tiễn. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Yếu quyết của thức này: uyển chuyển, động tác kín đáo. Sáu thức kia đều khai, chỉ liễu tiễn là hợp.

 

Thiên tiễn

Chân dang chữ bát, chưởng tâm lật ngữa, từ từ đưa lên qua đầu thẳng cánh, ngước mắt lên nhưng không quá ngửa cổ. Thực hiện kéo cung và xạ tiễn như trên. Yếu quyết của thức này: phải trầm tĩnh, tuy hướng lên do nâng khí, nhưng vẫn chú quán đan điền. Lưu ý, lúc nào cũng phải quán 2 nơi: đan điền và mục tiêu vô hình.

 

Tóm lại, mỗi thức có yếu quyết riêng nhưng đều nhưng đều theo tôn chỉ ban đầu. Pháp môn này lượng vận động hơi lớn, vận kình phải có uy lực, tập trung vào một chữ “KÉO”, kéo mà thấy nặng tay là thành công. Lúc tập, phải làm sao để 7 thức liền mạch, không đứt quãng. Hơi thở lẫn động tác liên miên.

 

(Hình vẽ sẽ được bổ sung sau)

Comments